Số người truy cập

243435
Tin tức / Tin hoạt động

Quản lý công dân bằng số định danh cá nhân

Cập nhật lúc 14:09 ngày 29/11/2017

CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG DÂN THÔNG QUA

SỐ ĐỊNH DANH CÁ NHÂN

 

Thượng tá Trần Hồng Phú - Phó Cục trưởng C72

 

Công tác quản lý dân cư luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước,  phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, trật tự và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Chính vì vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới, trong mọi thời kỳ và dưới bất kỳ chế độ chính trị nào cũng đều tiến hành hoạt động quản lý dân cư. Tuy nhiên, tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ phát triển và phong tục, tập quán mà mỗi quốc gia sẽ có cách thức quản lý dân cư riêng cho hiệu quả và phù hợp. Trong đó một số nước tại châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc... đang quản lý dân cư theo hộ gia đình, các quốc gia khác chủ yếu quản lý theo từng công dân. Dù quản lý dân cư theo hộ gia đình hay từng công dân thì đa phần các nước trên thế giới đều xây dựng hệ thống quản lý dân cư số hóa thông qua mã số định danh cá nhân, trong đó có Mỹ, Đức, Áo, Thụy Điển, Hungary, Italia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Singapore...

Nhìn chung, trong hệ thống quản lý dân cư tại các nước trên thế giới, số định danh cá nhân được sử dụng rộng rãi như là một mã xác định không chỉ ở hệ thống quản lý dân cư mà còn ở các lĩnh vực quản lý công khác, như: Thuế vụ, bảo hiểm, hưu trí, cấp bằng lái xe, cấp hộ chiếu, trong hệ thống giáo dục và giải quyết hành chính nhà nước, an sinh xã hội. Số định danh cá nhân cũng được sử dụng rộng rãi bên ngoài lĩnh vực công, chẳng hạn như lĩnh vực đăng ký kinh doanh, bảo hiểm và ngân hàng, được sử dụng như là một mã khóa trong kết nối, chia sẻ, khai thác giữa các hệ thống thông tin.

Tại Việt Nam, hiện nay, mỗi công dân có thể sở hữu nhiều loại giấy tờ với những số, mã số quản lý khác nhau (giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, thẻ bảo hiểm y tế, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, sổ bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe, các loại thẻ, chứng chỉ,...). Trong đó, số chứng minh nhân dân do Bộ Công an cấp cho công dân từ đủ 14 tuổi trở lên là có giá trị pháp lý cao nhất để xác định căn cước công dân, được công dân sử dụng thường xuyên trong đi lại, giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam và được các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng làm căn cứ để thực hiện các thủ tục hành chính và ghi vào nhiều loại giấy tờ cấp cho công dân. Các loại số còn lại đều được cấp để phục vụ mục tiêu quản lý riêng của ngành, lĩnh vực, nhưng đối tượng cấp còn hạn chế, có loại số lại thay đổi theo từng lần cấp giấy tờ nên không đảm bảo tính duy nhất, ổn định để sử dụng thường xuyên, lâu dài trong các giao dịch. Tuy nhiên, số chứng minh nhân dân 9 số hiện nay cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, như: cấp, quản lý bằng phương pháp thủ công; tàng thư CCCD được lập, quản lý theo phạm vi tỉnh, thành phố nên thông tin không kết nối, chia sẻ và khai thác chung trên toàn quốc; số CMND được cấp theo tỉnh, thành phố nơi công dân đăng ký thường trú nên một công dân có thể có nhiều số CMND 9 số khác nhau nếu thay đổi nhiều nơi thường trú qua nhiều tỉnh, thành phố khác nhau.

Trong bối cảnh hiện nay, với tốc độ phát triển công nghệ thông tin ngày càng mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dân cư khiến cho việc kết nối thông tin giữa các ngành, lĩnh vực trong việc quản lý dân cư thuận tiện hơn rất nhiều so với phương pháp quản lý thủ công. Do vậy, yêu cầu về chuẩn hóa một con số/mã số để cấp cho mỗi công dân, đồng thời tập trung nguồn lực thực hiện điện tử hóa các thông tin về công dân là nhu cầu tất yếu của quản lý nhà nước hiện nay.

Chính vì vậy, ngày 18/8/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2010/NĐ-CP quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trong đó quy định sử dụng số định danh cá nhân và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với mục tiêu xây dựng một cơ sở dữ liệu thống nhất trên toàn quốc để dùng chung. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 08/6/2013 về việc phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020; trong nội dung của Đề án, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định về cấp, quản lý và sử dụng số định danh cá nhân. Ngày 20/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Căn cước công dân, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 và ngày 31/12/ 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 137/2015 NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, trong đó có một chương quy định về cấu trúc, trình tự, thủ tục cấp, hủy số định danh cá nhân.

Theo quy định của Luật Căn cước công dân và các văn bản hướng dẫn thi hành, số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dùng để kết nối, cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các Cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Số định danh cá nhân do Bộ Công an thống nhất quản lý trên toàn quốc cấp cho công dân Việt Nam, không lặp lại ở người khác. Số định danh cá nhân là dãy số tự nhiên gồm 12 số, có cấu trúc gồm 6 số là mã thế kỷ sinh, mã giới tính, mã năm sinh của công dân, mã tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc mã quốc gia nơi công dân đăng ký khai sinh và 6 số là khoảng số ngẫu nhiên. Thực hiện Luật Căn cước công dân, Luật Hộ tịch, đến nay Bộ Công an đã cấp gần 08 triệu số định danh cá nhân cho công dân tại 16 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thông qua công tác cấp Căn cước công dân. Đồng thời, phối hợp với Bộ Tư pháp cấp gần 800.000 số định danh cá nhân cho trẻ em mới sinh tại 17 tỉnh, thành phố trên cả nước.

Do vậy, việc thay thế hình thức quản lý dân cư từ thủ công sang quản lý điện tử với việc sử dụng mã số định danh cá nhân là xu hướng tất yếu đại, đáp ứng yêu cầu quản lý dân cư trong tình hình mới:

Thứ nhất, quản lý công dân thông qua mã số định danh cá nhân bằng cách xây dựng một hệ thống Cơ sở dữ liệu dùng chung.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là tập hợp thông tin cơ bản về công dân Việt Nam được chuẩn hóa, số hóa, lưu trữ, quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin để phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, 15 trường thông tin cơ bản về công dân sẽ được tổ chức thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bao gồm: Họ, chữ đệm và tên khai sinh; Ngày, tháng, năm sinh; Giới tính; Nơi đăng ký khai sinh; Quê quán; Dân tộc; Tôn giáo; Quốc tịch; Tình trạng hôn nhân; Nơi thường trú; Nơi ở hiện tại; Nhóm máu; Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân, quốc tịch của cha, mẹ, vợ, chồng hoặc người đại diện hợp pháp; Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ, quan hệ với chủ hộ; Ngày, tháng, năm chết hoặc mất tích.

Thứ hai, quản lý công dân qua mã số định danh cá nhân bằng cách kết nối, chia sẻ thông tin dân cư.

Xây dựng hệ thống quản lý dân cư thống nhất trên mạng, trong đó hệ thống quản lý dân cư trên toàn quốc được coi là hệ thống thông tin chủ đạo kết nối với các hệ thống thông tin chuyên ngành khác của các Bộ, ngành thông qua mã số định danh cá nhân. Sử dụng công cụ số định danh cá nhân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vào quản lý dân cư cũng sẽ là nền tảng để phát triển và mở rộng các ứng dụng để tích hợp, chia sẻ thông tin công dân, trong giao dịch, công dân chỉ cần xuất trình thẻ Căn cước công dân, mã số định danh cá nhân là cơ sở để truy nguyên nhanh chóng thông tin cơ bản của công dân trong thực hiện các thủ tục hành chính. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được kết nối với các Cơ sở dữ liệu chuyên ngành làm tăng khả năng khai thác, cập nhật thông tin về dân cư, hạn chế tối đa trùng lặp thông tin, giảm chi phí đầu tư ngân sách nhà nước đối với hạ tầng công nghệ thông tin của các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Thứ ba, quản lý công dân qua mã số định danh cá nhân thông qua cung cấp dịch vụ dân cư trên các Ngành, lĩnh vực.

Khai thác thông tin dân cư sử dụng số định danh cá nhân bằng nhiều hình thức như sử dụng cổng thông tin, webservice, cung cấp dịch vụ dân cư cho các đơn vị, tổ chức, ban, ngành. Tùy theo yêu cầu và thẩm quyền các đơn vị, phần mềm cung cấp dịch vụ thông tin dân cư tương ứng, ứng dụng bao gồm các dịch vụ như cung cấp dịch vụ dân cư xác minh nhân thân, xác minh địa chỉ, cung cấp dịch vụ dân cư phục vụ lập danh sách và in thẻ cử tri bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cung cấp dịch vụ dân cư phục vụ lập danh sách nghĩa vụ quân sự, cung cấp dịch vụ dân cư phục vụ lập danh sách công dân đến tuổi làm Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, cung cấp dịch vụ dân cư phục vụ nhu cầu sử dụng tra cứu, lập báo cáo thống kê, quản lý, xây dựng chiến lược, đẩy mạnh các lĩnh vực trọng điểm của các địa phương....

Thứ tư, quản lý công dân qua mã số định danh cá nhân bằng cách cập nhật dữ liệu thông tin dân cư thông qua giải quyết thủ tục hành chính.

Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng và ban hành quy hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc thông điệp dữ liệu công dân trao đổi với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và quy định các yêu cầu kỹ thuật về kết nối hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu với cở sở quốc gia về dân cư. Thông qua giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước các cấp thông tin công dân khi có thay đổi được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đồng thời thông tin dân cư cũ được lưu vết và có giá trị truy nguyên nguồn gốc.

Để sớm xây dựng thành công Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và áp dụng quản lý dân cư thông qua số định danh cá nhân, cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, khẩn trương hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Căn cứ nội dung, phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính được Chính phủ thông qua tại Nghị Quyết số 112/NQ-CP ngày 30/10/2017, Bộ Công an và các Bộ, ngành có liên quan cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính, giấy tờ công dân quy định quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thời điểm hoàn thành, vận hành của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Hai là, nhanh chóng triển khai và thực hiện đầy đủ, có hiệu quả và đúng tiến độ các hạng mục công việc của dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Tổ chức thu thập và đưa quy trình cập nhật, làm sạch dữ liệu thông qua công tác đăng ký quản lý cư trú, cấp căn cước công dân, cấp số định danh...đảm bảo dữ liệu khi đưa vào khai thác đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Luật Căn cước công dân và các văn bản hướng dẫn thi hành để các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, từng người dân hiểu được mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và lợi ích của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Số định danh cá nhân. Qua đó, tạo sự đồng thuận của các cấp, các ngành và ủng hộ của nhân dân trong quá trình thu thập, cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu.

Quản lý dân cư bằng phương pháp hiện đại thông qua mã số định danh cá nhân sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tiến hành cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân và bãi bỏ các thủ tục gây phiền hà cho nhân dân. Trong xu thế phát triển của công nghệ thông tin và chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân hiện nay, quản lý công dân thông qua mã số định danh cá nhân là thành phần không thể thiếu, là tiền đề quan trọng để xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam./.

T.H.P

 

Các tin khác


   Bản quyền thuộc về Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an 
   Địa chỉ: 47 Phạm Văn Đồng - P.Mai Dịch, Q. Cầu Giấy - Hà Nội
    

Trở lên